Nếu ví mỗi trang văn là một chuyến phiêu lưu kì thú thì có lẽ mỗi tiết học văn bản văn học nước ngoài sẽ là một chuyến hành trình đầy mới mẻ và hấp dẫn để các em có thể góp nhặt thêm cho mình những hiểu biết, những bài học ý nghĩa và nhân văn từ khắp các dân tộc trên thế giới.

Nói đến Văn học trong
nhà trường là nói đến yêu cầu về nội dung giáo dục nhận thức cho
học sinh. Trong báo cáo của Ủy ban quốc tế về “Giáo dục cho thế kỉ XXI” đã nêu 4 mục tiêu của giáo dục
hiện đại: (1) Học để biết, (2) Học để làm, (3) Học để tự khẳng
định mình, (4) Học để cùng chung sống. Trong 4 mục tiêu đó “Học để cùng chung sống” được coi
là một trụ cột quan trọng, then chốt, giúp các dân tộc có thái độ
hòa bình, khoan dung, hiểu biết, tôn trọng lịch sử, truyền thống và
những giá trị văn hóa tinh thần của nhau. Như vậy, văn học nước ngoài
trong nhà trường chính là bộ môn nắm giữ sứ mệnh quan trọng thuận
lợi cho việc thực hiện những mục tiêu đó và giúp học sinh có thêm
những hiểu biết mới về các nền văn học trên thế giới. Thế nhưng, thực
tế chứng minh rằng, học văn bản văn học nước ngoài đang là một nỗi "ám ảnh"
đối với các em bởi rất nhiều những khó khăn mà các em đang gặp phải.

Học những bài văn học nước ngoài trong chương trình học
sinh có điều kiện tiếp xúc với những tác phẩm của những nhà văn lỗi lạc, tiêu
biểu cho các nền văn học, cho các khu vực văn hoá lớn của loài người. Không
những thế,tiếp xúc với tác phẩm văn học nước ngoài theo tiến trình lịch sử có
đối chiếu so sánh với văn học Việt Nam, học sinh có thể thấy được ảnh hưởng sâu
rộng của văn học nước ngoài đến văn học nước nhà và thấy được vị thế của văn
học dân tộc trong kho tàng vô giá của nhân loại. Ngoài ra học sinh còn có điều
kiện nhìn nhận rõ hơn về các quan điểm xã hội nhân văn như: anh hùng, dân tộc,
nhân ái , thuỷ chung…, có cơ hội am hiểu thêm về các thời đại, khu vực, nền văn
minh khác nhau, vốn hết sức phong phú, đa dạng trên thế giới.

Những nhà soạn sách đã lựa chọn rất nghiêm túc, công
phu những tác phẩm, đoạn trích văn học nước ngoài để đưa vào chương trình. Văn
học của nhiều quốc gia được đưa vào một cách đáng trân trọng và yêu
quý. Đó là những tinh hoa văn hóa nhân loại mà Việt Nam hay bất kì
một quốc gia nào cũng cần phải nghiên cứu tìm hiểu, học tập để làm
giàu thêm tri thức văn học cho bản thân cũng như bổ sung thêm những kiến
thức hay, bổ ích cho nền văn học dân tộc. Học tốt những tác phẩm này sẽ
mang lại cho học sinh những tri thức về nghệ thuật, phát huy tinh thần sáng tạo
và tiếp nhận thẩm mĩ của bản thân mình. Tuy nhiên cũng thừa nhận rằng dạy
học văn học nước ngoài đang gặp phải rất nhiều khó khăn:
-
Vấn đề bản dịch: Văn bản văn học là
trung tâm của mọi hoạt động tiếp nhận. Vì vậy, muốn dạy học tốt
thì phải trực tiếp tiếp xúc với văn bản. Trên thực tế dạy học văn
học nước ngoài trong nhà trường phổ thông chủ yếu thông qua bản dịch.
Tuy nhiên vì rào cản về ngôn ngữ nên không phải bản dịch nào cũng
dịch sát với nguyên tác hay nói cách khác giữa bản gốc và bản dịch
có sự vênh lệch. Trong quá trình giảng dạy, nếu giáo viên không phát
hiện và điều chỉnh sẽ dẫn đến việc truyền đạt cho học sinh kiến
thức chưa chính xác hoặc chưa thể hiểu sâu sắc về tác phẩm.
-
Sự khác biệt về văn hóa: Đặc trưng
văn học nước ngoài không chỉ là sự khác biệt về ngôn ngữ mà còn là
một khoảng cách rộng lớn về thời gian và không gian. Đó là khoảng
cách văn hóa. Mỗi tác phẩm văn học đều được sáng tạo trên một cơ
tầng văn hóa, chịu sự tác động của những quy luật tự nhiên và xã
hội nên tác phẩm văn học vừa mang tính dân tộc, vừa mang tính nhân
loại. Muốn phân tích văn bản một cách hợp lí và sâu sắc cần phải
tìm hiểu về đặc điểm thời đại, hoàn cảnh sáng tác, tập tục xã
hội, tâm lý, quan niệm đạo đức thẩm mĩ của dân tộc,…Tuy nhiên trên
thực tế một phần không nhỏ học sinh yếu kém về phương diện này. Các
em không hứng thú hoặc không có nhu cầu tìm hiểu về văn hóa của các
dân tộc trên thế giới, dẫn đến trong quá trình học xảy ra nhiều hiện
tượng nhầm lẫn, suy diễn một cách ngây ngô, hiểu sai tư tưởng tác
phẩm.
-
Những tác phẩm văn học được chọn đưa
vào sách giáo khoa đều là những tác phẩm tiêu biểu và đồ sộ, là
những đại diện xuất sắc của các nền văn hóa. Chính điều này đã
tạo nên khó khăn cho học sinh trong việc lĩnh hội bởi đó đều là
những kiến thức trừu tượng, khó hiểu.
Với những vấn đề gặp phải
nêu ra ở trên, tôi xin mạn phép đưa ra các biện pháp để đổi mới phương pháp dạy
học trong các tiết học văn học nước ngoài như sau:
Trước hết, tổ chức hoạt
động dạy học phải hướng tới việc hình thành các hoạt động nghiên
cứu thực sự cho học sinh. Trong phương pháp tổ chức,
người học - đối tượng của hoạt động dạy, đồng thời là chủ thể của
hoạt động học-được tham gia vào các hoạt động học tập do GV tổ chức
và chỉ đạo, thông qua đó, tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ
không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được GV sắp đặt. Học
sinh sẽ được đặt vào những tình huống có vấn đề, buộc các em phải
tự quan sát, thảo luận, tư duy để giải quyết vấn đề theo cách của
mình, từ đó nắm được kiến thức, kĩ năng và cả cách thức, phương
pháp chiếm lĩnh tri thức đó. Chính điều này sẽ giúp bộc lộ và
phát huy tiềm năng sáng tạo trong mỗi em chứ không phải cứ nhất nhất
tuân theo những khuôn mẫu cứng nhắc sẵn có.
Hình thành năng lực
nghiên cứu cho HS qua các giờ dạy học đọc-hiểu tác phẩm VHNN phải
thông qua tổ chức các hoạt động, bởi chỉ từ hoạt động và trong hoạt
động của chính mình các em mới có thể chiếm lĩnh tri thức một cách
trọn vẹn và hiệu quả nhất. Đặc biệt với các kiến thức mới và khó
như VHNN thì việc các em tự mình chiếm lĩnh tri thức sẽ giúp rút
ngắn khoảng cách của quá trình tiếp cận tác phẩm, từ đó khơi gợi
hứng thú và lòng say mê trong bản thân các em. Và một khi, các em tự
nhận thấy giá trị bổ ích các em sẽ dần yêu hơn môn Văn cũng như những
tác phẩm VHNN vốn được xem là “khó
nhai”. Bên cạnh đó, tổ chức hoạt động dạy học phải dựa vào sự nỗ
lực của cá nhân trong sự hợp tác hiệu quả của nhóm. Nhà tâm lí
giáo dục Nga L.X. Vưgôtxki cho rằng:
“Điều người học có thể làm qua hợp tác hôm nay thì họ có thể làm
một mình ngày mai”. Thực tế cho thấy, một người không thể giỏi
trong tất cả các lĩnh vực, dù ở lĩnh vực nào trong cuộc sống con
người đều có nhu cầu gắn kết, kế thừa lẫn nhau để đạt đến một mục
tiêu chung hoặc riêng nào đó.
Lớp học là môi trường
giao tiếp thầy-trò, trò-trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các
cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập. Thông qua thảo
luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ,
khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ
mới. Kiến thức VHNN rộng, mới và khó nên trên cơ sở hợp tác nhóm
các em sẽ chia sẻ cho nhau những gì mà mình am hiểu cũng như tự
nghiên cứu được, đồng thời sẽ nhận được một lượng thông tin, kiến
thức mới mà các bạn trong nhóm cung cấp.
Học tập hợp tác làm
tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề
gay cấn, lúc xuất hiện nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn
thành nhiệm vụ chung. Bên cạnh việc phát triển nhận thức, phương pháp
này còn có thể giúp HS tránh hiện tượng ỷ lại, bộc lộ cá tính và
năng lực của từng cá nhân. HS tự biết điều chỉnh mình trong việc
chiếm lĩnh tri thức từ đó phát triển năng lực tư duy, tạo bước nhảy
trong quá trình hình thành năng lực nghiên cứu.
Năng lực hợp tác nhóm
là một năng lực quan trọng, là điều kiện để HS tự hoàn thiện mình
trên cơ sở sự nỗ lực của bản thân và sự học hỏi từ những người xung
quanh, nhất là từ bạn bè thông qua hợp tác nhóm. Đây cũng sẽ là cơ
sở để các em có thể hình thành và phát huy năng lực tự học, tự
nghiên cứu của mình.
Không những thế, tổ chức
hoạt động dạy học cần có sự kết hợp đa dạng linh hoạt các phương
pháp dạy học. Vận dụng tổng hợp các phương pháp dạy học văn, GV sẽ
giúp HS làm chủ được những phương pháp tiếp cận, chiếm lĩnh tác
phẩm và tri thức văn học. Mỗi phương pháp có vị trí và tính năng
riêng của nó cần được vận dụng sáng tạo trong những bài học và
trường hợp cụ thể. Trong từng tiết dạy, một phương pháp có thể được
vận dụng như phương pháp “chủ công”
dựa trên cơ sở nội dung, mục đích của tài liệu giảng dạy và đặc
điểm đối tượng giáo dục.
Để hình thành được
năng lực tự nghiên cứu cho HS một cách hiệu quả người GV phải thực
sự linh động, sáng tạo trong việc sử dụng phương pháp dạy học. Vì
tất cả mọi phương pháp không có phương pháp nào là vạn năng, là
tuyệt đối mà mỗi phương pháp đều tồn tại trong nó nhưng ưu điểm và
hạn chế riêng. Kết hợp các phương pháp một cách linh hoạt, nhuần
nhuyễn và sáng tạo là yêu cầu bắt buộc đối với mỗi GV. Dạy học
tác phẩm VHNN trong nhà trường cũng thế, GV cần kết hợp các phương
pháp như: phương pháp đọc sáng tạo, phương pháp gợi mở, phương pháp
nghiên cứu, phương pháp tái tạo, phương pháp nêu vấn đề… trong tiến
trình hoạt động dạy học của mình. Mỗi tác phẩm, mỗi thể loại phải
biết chọn ra một phương pháp chủ đạo, đồng thời vận dụng các phương
pháp khác để kết hợp và hỗ trợ với nhau sao cho mang lại hiệu quả
tốt nhất.
Có nhiều kiểu dạy,
cách dạy và có nhiều con đường học tập. Trong dạy học, không chỉ duy
nhất có một con đường đảm bảo cho mọi HS học tốt mà điều cốt yếu
là sử dụng một cách hợp lí các phương pháp GV mới có thể đảm bảo
cho HS điều kiện tốt nhất để tự học, tự nghiên cứu. Bởi trong quá
trình dạy học, việc phối hợp nhịp nhàng, có hiệu quả giữa hoạt
động dạy của thầy và hoạt động học của trò là yếu tố quan trọng
góp phần quyết định chất lượng dạy học.
Xu hướng của đổi mới
phương pháp dạy học hiện nay là đổi mới theo quan điểm đặt học sinh
vào vị trí trung tâm của hoạt động dạy học. Trong quá trình dạy học
đòi hỏi cả hai chủ thể thầy và trò đều chủ động, tích cực bằng
các hoạt động khác nhau trong việc truyền đạt và lĩnh hội tri thức.
Nếu trước đây, người ta quan tâm nhiều đến phương pháp dạy của người
thầy thì ngày nay người ta đặc biệt quan tâm đến phương pháp học của học
sinh. Dạy học theo quan điểm đặt người học vào vị trí trung tâm cần
phải xác định đúng đắn hoạt động của thầy và trò trong tiến trình
dạy học. Hi vọng với những ý kiến nhỏ mà tôi đưa ra trên đây sẽ góp phần giúp
những tiết học văn học nước ngoài thực sự là những cuộc phiêu lưu kì thú và mới
mẻ, để văn học mãi làm tốt sứ mệnh cao cả của mình, hướng con người đến những
giá trị tốt đẹp, nhân văn, các giá trị chân - thiện - mỹ.
Giáo
viên: Ngô Thị Hoa