THỐNG KÊ TRUY CẬP
Số người đang online: 81
Số lượt truy cập: 6978392
QUẢNG CÁO
Những ngày làm báo của Võ Nguyên Giáp ở Quan Hải Tùng Thư 3/27/2011 7:29:19 PM
Mùa thu năm 1928,Võ Nguyên Giáp trở lại Huế. Anh bước vào đời - cuộc đời của một chiến sĩ cách mạng. Anh Nguyễn Chí Diểu giới thiệu Võ Nguyên Giáp đến làm việc ở “Quan Hải tùng thư”. Anh giữ chân thư kí ngồi ở quầy hàng bán sách, thực tế là tham gia sinh hoạt ở một tiểu tổ bí mật của đảng Tân Việt

“ Quan Hải tùng thư” là một nhà xuất bản do Tổng bộ đảng Tân Việt chủ trương có trụ sở đặt ở phố Đông Ba bên bờ sông Hương. Sáng lập viên là anh Đào Duy Anh, cộng tác viên chủ yếu gồm các anh: Phan Đăng Lưu, Ngô Đức Diễn.

     “ Quan Hải tùng thư” là trụ sở bí mật của Tổng bộ đảng Tân Việt. Vào thời ấy, ở nước ta xuất hiện nhiều nhà xuất bản có xu hướng tiến bộ. ở Hà Nội có “ Nam Đồng thư xã”, Sài Gòn có “ Cường học cư xã”, “ Duy Tân thư xã” xuất bản các ýac phẩm của cụ Phan Bội Châu. “ Giác quần thư xã” xuất bản di cảo của cụ Phan Chu Trinh.

    Nét đặc trưng của” Quan Hải tùng thư” là giữa kinh đô Huế, nơi mà thực dân Pháp và triều đình ra hết nghị định này tới đạo cụ khác để nghiêm cấm lưu hành các sách báo yêu nước, dân chủ mà bầu không khí chính trị nghẹt thở hơn Sài Gòn và Đà Nẵng là thuộc địa và nhượng thuộc địa đặt dưới chế độ luật pháp của nước Pháp thì “Quan Hải tùng thư” là nhà xuất bản đầu tiên và duy nhất lợi dụng khả năng hợp pháp để công khai cho ra mắt bạn đọc những tập sách có xu hướng tiến bộ.

    Với ý định truyền bá tri thức khoa học xã hội và tư tưởng mới, Đào Duy Anh biên soạn, phiên dịch, xuất bản một loạt sách như: Lịch sử các học thuyết kinh tế, Lịch sử nhân loại, Phụ nữ vận động, tôn giáo là gì? Xã hội là gì? Dân tộc là gì?. Phan Đăng Lưu dịch tập “ Xã hội luận” và “ Lịch sử các học thuyết kinh tế”. Võ Liêm Sơn dịch hai tập: “Đông Tây văn hoá phê bình”, và viết tập “ Hài văn”. Trần Đình Nam - một trí thức yêu nước ở Sài Gòn viết tập “ Thế Giới cường quốc chính thể”. Đào Duy Anh đặt cái tên “ Quan Hải tùng thư” là lấy ở câu “ Quan Hải nan vi thuỷ” của Mạnh Tử ( xem biểu thị biết rằng làm ra nước là khó). ý nói: Biển học thì mênh mông vô tận mà ông chỉ là con chim Tinh Vệ bé nhỏ ( Ông lấy biệt hiệu là Vệ Thạch) nguyện cắp từng hòn sỏi góp phần vào việc lấp biển học mênh mông.

     Ngôi nhà của “Quan Hải tùng thư” có hai tầng: Tầng dưới phía trước mở cửa hiệu bán sách, phía sau có cửa thông ra bờ kênh Đông Ba để đề phòng khi bất trắc. Sinh hoạt tiểu tổ đảng Tân Việt ở tầng trên. Tiểu tổ này do Đào Duy Anh là tổ trưởng gồm: Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Diểu và Trần Thị Như Mân. Đào Duy Anh là thầy học cũ của Võ Nguyên Giáp ở trường tiểu học Đồng Hới ( Quảng Bình). Gặp lại nhau, tình thầy trò quyện với tình đồng chí. Đào Duy Anh lớn hơn Võ Nguyên Giáp 7 tuổi. Nhiều đêm, hai thầy trò, hai anh em thức nói chuyện đến khuya. Phố Đông Ba ban đêm có người bán chè rong. Tiếng rao lanh lảnh: “ Chè hạt sen, chè đậu xanh...khôông?” có đủ loại chè kể cả chè thịt quay”. Một hôm, Đào Duy Anh gọi vào mỗi người một bát trả một hào. “ Lúc ấymình thấy một hào đã to lắm”. Sau này anh Giáp nói với tôi như vậy. Lương tháng của anh ở “ Quan Hải tùng thư” được 8 đồng. Nhớ lại ngày ở làng quê mới vào Huế học, anh phải trả tiền ăn hàng tháng từ hai đến hai đồng rưỡi. Anh Giáp chi tiêu rất dè xẻn, tằn tiện.

     Đào Duy Anh năm ấy 24 tuổi, cũng là người thuộc lớp thanh niên chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của cụ Phan Bội Châu. Nếu không có cuộc gặp gỡ với cụ Phan tại thị xã Đồng Hới một buổi trưa mùa đông cuối năm 1925 thì có lẽ anh sẽ sống mòn chôn vùi tuổi thanh xuân trong bầu không khí uể oải của một nhóm công chức và quan lại thuộc bốn năm cơ quan của chính quyền thực dân cùng hai dinh bố chánh và án sát của triều đình Huế. Tại cái tỉnh lị Quảng Bình nhỏ bé và hẻo lánh ấy, cụ Phan xuất hiện đã thức tỉnh anh. Tiếp đến, lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh rồi cuộc bãi khoá thôi thúc anh muốn ra đi thoát khỏi chốn ao tù tìm nơi trời cao biển rộng. Kết thúc năm học, anh đệ đơn từ chức giáo học không chờ giấy trả lời của sở học chính Trung Kì. Anh từ giã bạn bè và học trò lên đường vào Huế, Đà Nẵng rồi Sài Gòn để làm báo. Qua Huế, anh ghé thăm cụ Phan Bội Châu lĩnh hội ý kiến của cụ. Cụ Phan khuyến khích cổ vũ, cụ kể với anh rằng cụ đã từng viết báo ở Trung Quốc để tuyên truyền cho cách mạng Việt Nam. Nguyện vọng làm báo của anh được thực hiện khi anh gặp cụ Huỳnh Thúc Kháng ở Đà Nẵng và được cụ giao trách nhiệm giúp cụ thành lập tờ báo “ Tiếng Dân” ở Huế. Sau một thời gian cùng sinh hoạt tiểu tổ và phân công công tác đoàn thể cho anh Giáp. Đào Duy Anh uỷ thác cho anh Giáp hai nhiệm vụ quan trọng:

     Một là: Với tư cách tổng bí thư đảng Tân Việt ( Đào Duy Anh được bầu tổng bí thư đảng Tân Việt trong đại hội ngày 14 tháng 7 năm 1928 họp tại khách sạn phố Hàng Bè. Đại hội sửa đổi chương trình, điều lệ, quyết định đổi tên đảng và dời tổng bộ từ Vinh vào Huế), anh trao đổi ý kiến trong ban thường vụ tổng bộ khi ấy gồm 3 người: Đào Duy Anh, Phan Đăng Lưu và Ngô Đức Diễn. Một hôm, anh tuyên bố với Võ Nguyên Giáp: “ Các anh quyết định giao cho cậu nhiệm vụ làm uỷ viên trung ương dự bị phụ trách tuyên huấn và giao thông liên lạc”.

      Hai là: Với tư cách tổng biên tập báo Tiếng Dân, Đào Duy Anh giới thiệu Võ Nguyên Giáp với cụ Huỳnh Thúc Kháng và được cụ đồng ý nhận anh Giáp làm biên tập viên báo Tiếng Dân. Hai việc này có tác dụng thúc đẩy quá trình trưởng thành nhanh chóng về chính trị của anh Giáp.

      Báo Tiêng Dân là tờ báo lớn đầu tiên ở Trung Kì có xu hướng tiến bộ do một cựu chính trị phạm là cụ Huỳnh Thúc Kháng chủ trương ra mắt đọc giả từ tháng 7 năm 1927. Cụ Huỳnh Thúc Kháng là một trí thức yêu nước có tiếng ở Quảng Nam. Nhà nghèo học giỏi, cụ đỗ tiến sĩ lúc ngoài 20 tuổi, không ra làm quan mà ở nhà đọc Tân thư của các học giả tiến bộ Trung Quốc và giao thiệp với các chí sĩ yêu nước như Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Trần Quý Cáp. Là lãnh tụ của phong trào Duy Tân ở tỉnh nhà, ông bị bắt giữa lúc phong trào chống thuế diễn ra quyết liệt ( 1908). Trần Quý Cáp bị tử hình, Phan Chu Trinh bị đày đi Côn Đảo sau đó đưa đi an kí tại Pa-ri. Cụ Huỳnh Thúc Kháng bị đày ra Côn Đảo 13 năm từ 1908 đến 1921. Năm 1922, cụ được phóng thích cùng các chí sĩ: Lê Huân, Ngô Đức Kế, Nguyễn Đình Kiên, Đặng Nguyên Cẩn.

     Năm 1925, thi hành chính sách mị dân, chính quyền thực dân bải bỏ hình thức “ Hội đồng tư vấn” đã mất tác dụng, cho ra đời các “ Viện dân biểu” ở Trung Kì và Bắc Kì. Cùng lúc đó, họ cho thành lập đảng Lập Hiến của Bùi Quang Chiêu ở Sài Gòn hô hào “ Pháp - Việt đề huề”.

     Cụ Huỳnh Thúc Kháng cùng một số chính trị phạm ra ứng cử dân biểu Trung Kì. Các phần tử yêu nước giành thắng lợi lớn trong cuộc vận động bầu cử. Họ bầu cụ Huỳnh Thúc Kháng làm viện trưởng. Được các cựu chính trị phạm và trí thức yêu nước ủng hộ, cụ Huỳnh đứng ra lập tờ báo làm cơ quan ngôn luận bênh vực quyền lợi của dân và hỗ trợ cho hoạt động của Viện dân biểu. Báo Tiếng Dân là cái tên đầy ý nghĩa đó. Báo sống được 16 năm ( Từ 1927 đến 1943) thì bị đóng cửa. “ 16 năm Thét Tiếng Dân giữa kinh thành Huế” đó là lời nhận xét của đồng chí Trường Chinh.

      Nếu mối duyên nợ của Võ Nguyên Giáp với bài báo đầu tiên viết năm 16 tuổi khi còn là học sinh Quốc Học thì thời gian làm báo Tiếng Dân là giai đoạn học nghề. Anh phải đọc rất nhiều bài báo các loại để tìm hiểu những vấn đề đang là sôi nổi dư luận lúc bấy giờ. Anh phải tìm hiểu vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước và thế giới. Anh làm quen với mọi thể loại: Tin tức, Thời sự, Bình luận, Điều tra, Phóng sự. Anh viết rất nhiều bài báo dưới các bút danh: Vân Đình, Hải Thanh. Anh được phân công viết mục “ Thế giới thời đàm”, đưa tin và bình luận tình hình thế giới. Khi ấy, anh đã rất chú ý đến tình hình chiến tranh du kích ở Trung Quốc. “ Lúc đó mình tưởng Chu - Mao là một người”. Sau này, anh Giáp đã từng tâm sự. Anh đưa tin về các cuộc đấu tranh đòi quyền lợi của thợ thuyền như cuộc đình công của công nhân nhà máy sợi Nam Định ( 23 - 11 - 1928) cuộc đình công của một bộ phận cu-li xe kéo ở Hà Nội( 6 -1 -1929). Cuộc bãi công của công nhân xe lửa Trường Thi ( Từ 16 đến 23 tháng 5 năm 1929).

      Anh Giáp rất chú ý đến vấn đề nông thôn. Anh viết một số bài bài về đời sống khổ cực của nông dân: Sưu cao, thuế nặng, mua đắt bán rẻ, cướp đoạt ruộng đất...Những vấn đề mà anh quan sát được ở quê hương An Xá.

     Anh đi vào nghiên cứu các vấn đề kinh tế. Nhân đọc cuốn “ Niên giám thống kê”, anh lấy tư liệu các công ty tư bản ở Đông Dương có vốn trên một triệu đồng viết bài tố cáo sự bốc lột của tư bản thực dân đối với nhân dân lao động và sự chèn ép của chúng đối với tư bản dân tộc. Bài đăng hai cột báo trang nhất. Cái lối khai thác tài liệu “ Lấy gậy ông đập lưng ông” này anh Giáp học theo cách viết của Nguyễn ái Quốc trên tờ Lơ-pa-ri-a và trong cuốn “Bản án chế độ thực dân Pháp”. Tất nhiên các nhà cầm quyền thực dân không thể chịu nổi. Bài báo bị kiểm duyệt xoá sạch. Theo quy chế quản lí báo chí của chính quyền thực dân, báo in xong mo-rat phải đưa lên sở mật thám kiểm duyệt. Lê-ông-xô-nhi chánh mật thám Trung Kì gạch xoá gần hết bài báo của anh Giáp với cây bút chì xanh của hắn. Lúc ấy, các nhà báo gọi cơ quan kiểm duyệt là “ Bút chì xanh”. Đưa về sửa bài không kịp, anh Giáp thưa với cụ Huỳnh. Cụ bảo: “ Cứ để cột trắng”.

     Làm việc với cụ Huỳnh, Anh Giáp nhận thấy cụ là một nhà nho cương trực có khí tiết đại trượng phu, không khuất phục trước uy vũ, không màng giàu sang phú quý, không sờn lòng trước gian khổ hiểm nguy. Tính cụ hơi xẳng do thẳng thắn và quyết đoán. Cụ Huỳnh Thúc Kháng không làm thơ văn như cụ Phan Bội Châu nhưng nhiệt tình yêu nước thì chan chứa, trí dũng có thừa. Cụ Huỳnh có trí nhớ đặc biệt, đọc đến đâu nhớ đến đấy. Mọi người đều biết tiếng cụ. Khi cụ bị đày ra Côn Đảo đã tự học Pháp văn bằng từ điển và thuộc lòng cả tờ Ga-zét. Về quan điểm chính trị, cụ Huỳnh vẫn theo chủ trương ôn hoà của cụ Phan Chu Trinh. Cụ không theo tư tưởng cộng sản. Tuy vậy cụ vẫn để cho cậu Giáp “ Bôn-sê-vích” ( cụ gọi anh Giáp như vậy) viết những bài dưới dạng phổ thông tuyên truyền chủ nghĩa Mác trên báo Tiếng Dân.

    Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, anh Giáp còn được làm việc với cụ Huỳnh khi cụ giữ chức chủ tịch chính phủ liên hiệp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà thay chủ tịch Hồ Chí Minh ( Lúc đó, cụ Hồ đã sang Pháp đàm phán). “ Dĩ bất biến ứng vạn biến”, mọi nguời đều biết câu nói nổi tiếng của cụ Hồ dặn cụ Huỳnh Thúc Kháng trước lúc ra đi.

                                                                                           Nguyễn Khoa Học

                                                                                       Sưu tầm và giới thiệu)

 

 

 

Nguyễn Khoa Học
TÌM KIẾM


Hỗ trợ trực tuyến
Trần Văn Nầy
Trần Văn Nầy
Hiệu trưởng
Mai Thị Hương Giang
Mai Thị Hương Giang
P.Hiệu Trưởng
Lê Quang Năm
Lê Quang Năm
ĐĂNG NHẬP

Tên đăng nhập
Mật khẩu
HÌNH ẢNH
LIÊN KẾT WEBSITE


TRƯỜNG THCS AN THỦY - HUYỆN LỆ THỦY - TỈNH QUẢNG BÌNH
Điện thoại: 0232.3882535 - Email: thcsanthuy@lethuy.edu.vn
Developed by Phạm Xuân Cường. Tel: 0912.037911 - Mail: cuonggiaoduc@gmail.com